| Lợi
ích của cổ đông được đo lường trên cơ sở các khoản thu nhập sau thuế. ở
nhiều nước trên thế giới, ngoài thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), khi
các cổ đông nhận được cổ tức, trái tức hoặc thu được lãi vốn do chuyển
nhượng cổ phần sẽ bị điều tiết bởi thuế thu nhập cá nhân (TNCN). Luật
Thuế TNCN của Việt Nam có hiệu lực từ 01.01.2009 đã có nhiều sửa đổi so
với Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao. Điểm thay
đổi nổi bật là thu nhập từ đầu tư vốn bao gồm lãi cho vay, cổ tức, thu
nhập từ chuyển nhượng vốn sẽ chịu thuế TNCN theo biểu thuế toàn phần.
Nghiên cứu thuế suất đối với thu nhập đầu tư vốn là 5% và đối với thu
nhập từ chuyển nhượng vốn là 0,1% trên giá bán và 20% trên thu nhập
chịu thuế (tuỳ theo phương pháp tính thuế mà nhà đầu tư đăng ký nộp
thuế) là vấn đề mà các CTCP cần phải quan tâm trong thời gian tới đối
với chính sách phân phối cổ tức của mình, nhằm tối đa hoá giá trị DN và
gia tăng lợi ích cho cổ đông.
Một số quan điểm về phân phối cổ tức
Quan
điểm truyền thống về chính sách phân phối cho rằng, lợi tức cổ phiếu
gia tăng hôm nay sẽ làm lợi cho các cổ đông nhiều hơn và do đó sẽ làm
gia tăng giá trị DN. Lập luận đầu tiên đó là cổ tức nhận được bằng tiền
mặt ngày hôm nay sẽ có giá trị hơn phần chênh lệch do chuyển nhượng vốn
mà cổ đông nhận được sau này, đồng thời cổ thức nhận được hôm nay là
chắc chắn, còn phần chênh lệch do chuyển nhượng vốn trong tương lai thì
hoàn toàn không chắc chắn.
Quan
điểm mới thì cho rằng, gia tăng cổ tức sẽ làm giảm giá trị DN. Cơ sở lý
luận của trường phái này cho rằng, các DN đang hoạt động trong một thế
giới thực và đối diện với một thị trường cạnh tranh không hoàn hảo,
chứa nhiều nhân tố mà cả DN lẫn cổ đông phải quan tâm mà điển hình nhất
là thu nhập của các cổ đông phải chịu ảnh hưởng của nhân tố thuế. ở hầu
hết các quốc gia trên thế giới, chính phủ đều đánh thuế nhẹ trên thu
nhập đạt được trên lợi nhuận được đem tái đầu tư trước đây. Do đó thuế
đánh trên cổ tức nhận được bằng tiền mặt sẽ nặng hơn thuế đánh trên
chênh lệch do chuyển nhượng vốn, là kết quả của sự chênh lệch do lợi
nhuận giữ lại làm gia tăng giá trị thật của cổ phiếu so với giá trị
trước đây.
Khi
CTCP chia cổ tức bằng cổ phiếu, biến động về giá cổ phiếu chịu sự tác
động của nhiều nhân tố bên ngoài lẫn bên trong công ty. Những CTCP có
hình tượng tốt đẹp trên thị trường cùng với sự phát triển của thị
trường chứng khoán thì giá cả của cổ phiếu không tác động giảm giá đáng
kể, vì thực chất số cổ phiếu phát hành đã được thực hiện trên cơ sở lợi
nhuận của CTCP đã đạt được, tức đã được đảm bảo về giá trị bằng tiền.
Trong trường hợp này, nếu cổ đông không muốn nắm giữ thì có thể bán
trên thị trường để thu về tiền mặt. Đối với những CTCP áp dụng phương
pháp mới thì không cần dùng đến tiền mặt nhưng vẫn đạt được mục đích là
đem lợi nhuận chia cho cổ đông, đáp ứng cho nguồn vốn sử dụng để tái
đầu tư, mở rộng quy mô, phục vụ cho chiến lược phát triển lâu dài của
công ty. Mặt khác khi giá cổ phiếu của công ty trên thị trường quá cao,
không có lợi cho việc thu hút đầu tư rộng rãi, để hạn chế giá cổ phiếu,
không vượt qua phạm vi kiểm soát của công ty, việc áp dụng phương pháp
này có thể khống chế giá cả cổ phiếu của công ty trên thị trường trong
một phạm vi tối ưu. Bên cạnh những tác động tích cực, việc áp dụng
phương pháp chi trả cổ tức bằng cổ phiếu cũng có thể đem lại những tác
động không tốt, nhà đầu tư sẽ cho rằng CTCP kinh doanh kém hiệu quả,
không đảm bảo khả năng tạo ra tiền, quay vòng vốn không linh hoạt, từ
đó sẽ làm dao động lòng tin của nhà đầu tư và làm giá cổ phiểu giảm
mạnh, điều quan trọng hơn là việc chi trả cổ tức bằng cổ phiếu có thể
làm loãng giá cổ phiếu và gây thiệt hại lớn hơn cho cổ đông và cả CTCP
do tổng giá trị thị trường cổ phiếu của cổ đang đang nắm giữ sẽ giảm đi
do giá cổ phiếu giảm. Mặt khác với việc trả cổ tức bằng cổ phiếu có thể
làm cho CTCP không đảm bảo khả năng kiểm soát, do sự thôn tính của các
DN khác bằng hình thức thu mua các cổ phiếu của công ty đã phát hành.
Tác động của thuế TNCN đối với cổ tức của cổ đông
CTCP
khi chi trả cổ tức có thể thực hiện bằng các hình thức như: cho trả cổ
tức bằng tiền mặt, chi trả cổ tức bằng cổ phiếu hoặc sử dụng hỗn hợp,
vừa chi trả bằng tiền mặt và bằng cổ phiếu. Theo quy định tại khoản 2
điều 6, Luật thuế TNCN thì cổ tức nhận được bằng cổ phiếu phải quy đổi
ra tiền theo giá thị trường của cổ phiếu tại thời điểm cổ đông nhận chi
trả. Như vậy, việc phân tích lợi ích giữa việc chi trả cổ tức bằng tiền
mặt và bằng cổ phiếu trong thời gian tới sẽ là vấn đề mà các CTCP cần
phải xem xét.
Qua
kết quả này, với giả định cổ đông không thực hiện bán cổ phiếu nhận
được mà giữ lại, rõ ràng việc chi trả cổ tức bằng cổ phiếu sẽ làm giảm
lợi ích của cổ đông, cụ thể cổ đông phải nộp thuế TNCN cao gấp 5 lần so
với chi trả cổ tức bằng tiền mặt.
Chính sách thuế TNCN và lợi ích của doanh nghiệp
Về
góc độ DN: theo chính sách thuế TNCN có hiệu lực từ ngày 01.01.2009 thì
các khoản cổ tức chi trả bằng tiền hay chi trả bằng cổ phiếu đều là đối
tượng chịu thuế TNCN, do vậy việc xây dựng cơ chế cổ tức hợp lý là nội
dung mà các CTCP phải nghiên cứu ngay từ bây giờ. Điều quan trọng là
phải kết hợp chính sách phân phối cổ tức với quyết định đầu tư và quyết
định tài trợ trên cơ sở một cấu trúc vốn thích hợp. Với quy định của
luật thuế TNCN không tính thuế thu nhập đối với khoản thu nhập giữ lại,
sẽ là cơ hội cho các CTCP sử dụng khoản thu nhập sau thuế để tái đầu
tư, vừa giảm chi phí sử dụng vốn trong tình hình lãi suất vay ngân hàng
thương mại đang tăng cao và không ổn định, vừa gia tăng giá trị công ty
và đem lại lợi ích cho cổ đông qua trì hoãn được khoản thuế TNCN phải
nộp.
Về
kinh tế vĩ mô: việc qui định tính thuế TNCN đối với cổ tức nhận bằng cổ
phiếu, trên cơ sở qui đổi theo giá thị trường tại thời điểm nhận cổ
phiếu để xác định thu nhập tính thuế, là một vấn đề cần được xem xét.
Với quy định này của Luật Thuế TNCN chưa thật sự khuyến khích các CTCP
sử dụng nguồn thu nhập giữ lại để đầu tư thông qua hình thức chi trả cổ
tức bằng cổ phiếu. Việc áp dụng thuế suất thấp (5%) đối với thu nhập là
cổ tức bằng tiền mặt nhưng nhưng lại tính thuế trên cổ tức được chia
bằng cổ phiếu theo giá thị trường tại thời điểm chi trả, khi mà khoản
thu nhập này cổ đông chưa thật sự nắm giữ trên tay không thể hiện định
hướng khuyến khích các CTCP sử dụng lợi nhuận sau thuế để tái đầu tư.
Hướng xem xét, sửa đổi cách tính thuế đối với cổ tức nhận được bằng cổ
phiếu nên qui định tương tự như tính thuế đối với thu nhập từ chuyển
nhượng vốn. Cụ thể, khi cổ đông thực hiện chuyển nhượng cổ phiếu trên
thị trường thì lúc này sẽ phát sinh khoản thuế TNCN phải nộp trên chênh
lệch giá (giữa giá thị trường và mệnh giá) hoặc bằng một tỷ lệ (%) ấn
định trên giá trị chuyển nhượng, sẽ là một nội dung phù hợp hơn với đặc
điểm của nền kinh tế Việt Nam, sẽ khuyến khích các CTCP xây dựng một
chính sách phân phối linh hoạt, sử dụng khoản lợi nhuận sau thuế để đầu
tư khi mà nguồn vốn tài trợ cho hoạt động SXKD còn quá thấp, chi phí sử
dụng vốn quá cao. Trong xu hướng chung của thế giới, thuế TNCN là một
sắc thuế tiên tiến, đảm bảo tính công bằng về nghĩa vụ thuế đối với mỗi
cá nhân và chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng thu ngân sách của các
quốc gia. Vì vậy, Nhà nước cần nghiên cứu xây dựng biểu thuế, phương
pháp tính thuế một cách khoa học, để có thể đưa chính sách thuế TNCN
trở thành một công cụ điều tiết vĩ mô trong phát triển kinh tế, định
hướng cho hoạch định cấu trúc vốn nhằm gia tăng giá trị của các CTCP và
phát triển thị trường chứng khoán còn non trẻ của Việt Nam./. |