| Muốn
doanh nghiệp nộp thuế ở các địa phương thì trước tiên phải tính được số
thuế phải nộp của các đơn vị phụ thuộc ở từng địa phương. Điều này là
bất khả. Nếu làm được thì các đơn vị phụ thuộc đó đã được tổ chức thành
những đơn vị độc lập của doanh nghiệp rồi.
Trường hợp thứ nhất: trong dự luật sửa đổi thuế giá trị gia tăng, thủ
tục khấu trừ và hoàn thuế được bổ sung thêm điều kiện “thanh toán qua
ngân hàng”. Tất nhiên tác giả sáng kiến này có lý lẽ của mình, nhưng
vấn đề quan trọng hơn lại là tính khả thi của quy định này, khi kinh tế
tiền mặt còn khá phổ biến.
Thêm nữa, hình như các tác giả sáng kiến này vô tình hay hữu ý bỏ
qua hiện thực giao lưu kinh tế là việc mua bán và việc thanh toán không
phải lúc nào cũng diễn ra đồng thời, luôn “tiền trao cháo múc”, mà luôn
có gối đầu. Có thể trả tiền trước, nhận hàng sau. Có thể nhận hàng
trước, trả tiền sau. Có thể một lần trả cho nhiều chuyến hàng, có thể
một chuyến hàng trả bằng nhiều lần. Với thực tế mua bán và thanh toán
đan chéo như thế, việc kê khai, chứng từ và sự kiểm soát của cơ quan
thuế thế nào?
Trường hợp thứ hai: trong dự luật sửa đổi thuế TNDN, nơi nộp thuế
được sửa đổi như sau: trong trường hợp doanh nghiệp có đơn vị trực
thuộc ở các tỉnh (thành) khác nơi đặt trụ sở chính, số thuế phải nộp
được phân bổ giữa nơi kinh doanh và nơi đặt trụ sở. Một công ty xây
dựng đóng trụ sở tại TPHCM, nhưng lại có nhiều đội thi công phụ thuộc ở
các tỉnh khác nữa. Hiện nay công ty nộp thuế TNDN tập trung ở TPHCM,
rồi đây sẽ phải chia ra nộp ở tất cả các địa phương có công trình thi
công.
Tác giả sáng kiến này chắc chắn cũng có lý lẽ của mình khi lồng công
việc phân chia nguồn thu của ngân sách nhà nước cho ngân sách địa
phương, vốn là công việc của cơ quan tài chính, vào công việc nộp thuế
của doanh nghiệp. Nhưng lại thực hiện khiên cưỡng bằng quyền lực nhà
nước, tạo ra sự lộn xộn về chức năng trong guồng máy kinh tế - xã hội:
việc của Nhà nước bắt doanh nghiệp làm, việc của cơ quan tài chính bắt
cơ quan thuế làm. Nhưng rối hơn lại là xử lý các vấn đề nghiệp vụ - kỹ
thuật.
Muốn doanh nghiệp nộp thuế ở các địa phương thì trước tiên phải tính
được số thuế phải nộp của các đơn vị phụ thuộc ở từng địa phương. Điều
này là bất khả. Nếu làm được thì các đơn vị phụ thuộc đó đã được tổ
chức thành những đơn vị độc lập của doanh nghiệp rồi. Và mặc nhiên họ
sẽ đăng ký, kê khai và nộp thuế ở địa phương hoạt động. Đối với những
đơn vị này quy định trên trở thành vô nghĩa.
Tiếp nữa, chỉ có cơ quan tài chính mới có quyền quyết định mức độ và
phải kiểm soát tình hình phân chia thuế cho từng địa phương, nhưng
doanh nghiệp phải biết để tính và nộp thuế cho từng địa phương, cơ quan
thuế cũng phải biết để theo dõi, kiểm tra, trong đó có yêu cầu cập nhật
vì những thông số liên quan tới việc phân chia này chắc chắn sẽ luôn có
những điều chỉnh. Rồi còn việc tạm nộp bốn lần mỗi năm, mà nộp phân tán
khắp nơi, việc quyết toán và thanh toán thuế cuối cùng theo quyết toán
cả năm. Biết bao rắc rối, phức tạp, tốn thời gian, công sức của doanh
nghiệp, mà lại không phải là việc thuộc chức năng của họ.
Một phức tạp khác: hiện nay doanh nghiệp nộp thuế TNDN tập trung, có
nghĩa là nộp theo kết quả kinh doanh của toàn doanh nghiệp, trong đó
tất nhiên bao hàm sự bù trừ kết quả hoạt động của tất cả các đơn vị
trực thuộc. Việc nộp và thanh quyết toán thuế tập trung ở một nơi là
rất thuận tiện. Thực tế bao năm nay chúng ta đã làm như thế. Nay nếu
việc nộp phân tán được thông qua, công việc thanh quyết toán sẽ rất
nhiêu khê, nhất là trong trường hợp doanh nghiệp phải nộp bổ sung hay
đã tạm nộp thừa.
Cần thấy rằng số thuế tạm nộp không bao giờ khớp với số thuế phải
nộp theo quyết toán. Nhưng số chênh lệch này phải chờ cơ quan thuế kiểm
tra quyết toán mới xác định được. Mà thời gian chờ này thường rất dài,
phải tính bằng vài năm! Và khi đã xác định được con số phải nộp bổ sung
hoặc con số đã nộp thừa, thì vấn đề phân chia với các địa phương có còn
phải làm tiếp hay không và nếu còn phải làm thì làm thế nào?
|