Mặc dù còn những ý kiến khác nhau về Luật thuế TNCN, song có thể
nói, đây là một văn bản luật được soạn thảo công phu nhất từ trước đến
nay, phản ánh khá đầy đủ ý chí, nguyện vọng của nhân dân với nhiều điểm
mới so với Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao và phù
hợp hơn với điều kiện kinh tế-xã hội nước ta hiện nay.
Bổ sung và quy định rõ hơn về đối tượng nộp thuế.
Điểm
mới cơ bản nhất liên quan đến quy định về đối tượng nộp thuế là việc
đưa cá nhân kinh doanh vào diện nộp thuế TNCN. Theo quy định trước đây,
cá nhân kinh doanh thuộc diện chịu thuế TNDN. Sự thay đổi này, trước
hết đảm bảo tính công bằng trong điều tiết thu nhập bởi đã là cá nhân
có thu nhập chịu thuế thì dù thu nhập từ bất kì nguồn nào cũng đều được
đối xử như nhau, tức là đều chịu thuế TNCN. Thêm vào đó, việc điều tiết
thu nhập của cá nhân kinh doanh theo Luật thuế TNCN thực hiện theo
phương pháp luỹ tiến sẽ đảm bảo điều tiết hợp lý thu nhập dân cư. Điều
này rất có ý nghĩa đối với các hộ kinh doanh nhỏ ở Việt Nam vì theo quy
định trước đây họ phải nộp thuế TNDN với thuế suất chung bằng với các
doanh nghiệp (thông thường là những đơn vị kinh doanh có quy mô lớn).
Việc áp dụng thuế suất như với các doanh nghiệp là quá cao đối với hộ
cá nhân kinh doanh. Hơn nữa, quy định này cũng đảm bảo tính thông lệ
quốc tế, vì hầu hết các nước đều đưa cá nhận kinh doanh vào diện nộp
thuế TNCN.
Về đối tượng nộp thuế, còn một điểm mới
nữa là việc định nghĩa rõ hơn đối tượng cư trú (đối tượng phải nộp thuế
TNCN cho Việt Nam đối với toàn bộ thu nhập, kể cả thu nhập phát sinh ở
Việt Nam và nước ngoài). Nếu như trước đây, đối tượng cư trú chỉ là cá
nhân có mặt ở Việt Nam từ 183 ngày trở lên trong năm dương lịch hoặc
tính theo 12 tháng liên tục kể từ khi đến Việt Nam thì Luật thuế TNCN
đã bổ sung thêm một điêu fkiện nữa được coi là cư trú ở Việt Nam, đó là
"cá nhân có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi ở đăng ký
thường trú hoặc có nhà thuê để ở lại Việt Nam theo hợp đồng thuê có
thời hạn". Bổ sung như vậy làm cho việc xác định đối tượng nộp thuế
được thuận lợi hơn, bao quát hết đối tượng nộp thuế và mở rộng đói
tượng nộp thuế một cách hợp lý.
Đổi mới cách phân loại thu nhập chịu thuế để xác định nghĩa vụ thuế.
Theo
Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao hiện hành, thu
nhập được phân chia thành thu nhập thường xuyên và thu nhập không
thường xuyên. Tuy nhiên, Pháp lệnh không định nghĩa rõ thế nào là thu
nhập thường xuyên, thế nào là thu nhập không thường xuyên. Do vậy,
trong thực tế, việc tính thuế gặp khá nhiều khó khăn. Đồng thời, việc
tính thuế đối với từng loại thu nhập không hợp lý, không phù hợp với
thông lệ quốc tế. Luật thuế TNCN đã khắc phục được hạn chế này với việc
phân loại thu nhập chịu thuế theo nguồn phát sinh thu nhập. Theo đó,
thu nhập chịu thuế bao gồm thu nhập từ kinh doanh; thu nhập từ tiền
lương, tiền công; thu nhập từ đầu tư vốn; thu nhập từ chuyển nhượng
vốn, chuyển nhượng bất động sản; thu nhập khác (bao gồm: thu nhập từ
trúng thưởng, thu nhập từ bản quyền, thu nhập từ thừa kế, quà tặng, thu
nhập từ chuyển nhượng quyền thương mại). Đây là cơ sở để tính thuế phù
hợp với từng loại thu nhập. Từ cách phân loại này, việc áp dụng thuế
suất được quy định theo hai hướng: đối với thu nhập từ kinh doanh và
tiền lương, tiền công thì áp dụng biểu thuế suất luỹ tiến từng phần;
đối với các khoản thu nhập còn lại thì áp dụng biểu thuế luỹ tiến toàn
phần.
Mở rộng diện điều tiết một cách hợp lý trên cơ sở bổ sung một số khoản thu nhập chịu thuế.
Một
số khoản thu nhập trước đây không quy định (mặc nhiên được coi là thu
nhập không chịu thuế) được quy định trong Luật thuế TNCN gồm: thu nhập
từ chuyển nhượng quyền thương mại, thu nhập từ quà tặng là chứng khoán,
phần vốn trong các cơ sở kinh doanh, bất động sản hoặc tài sản khác
phải đăng ký sở hữu hoặc sử dụng (tuy nhiên, thu nhập từ chuyển nhượng
bất động sản của cá nhận chỉ có nhà ở, đất ở duy nhất được miễn thuế),
thu nhập từ casino, thu nhập từ trúng thưởng các cuộc thi có thưởng và
các hình thức trúng thưởng khác (trước đây chỉ tính đối với trúng
thưởng xổ số và khuyến mại). Tất nhiên, những khoản thu nhập này chỉ bị
đánh thúê khi thu nhập phát sinh lớn (từ trên 10 triệu đồng một hợp
đồng hoặc một lần phát sinh)/ Liên quan đến thu nhập chịu thuế từ
chuyển nhượng, kế thừa, quà tặng, có một quy định đáng chú ý là Luật
thuế TNCN quy định miễn thuế đóố với thu nhập từ chuyển nhượng, thừa
kế, quà tặng giữa vợ với chồng; cha mẹ đẻ; cha mẹ nuôi; mẹ nuôi với con
đẻ, con nuôi; cha chồng mẹ chồng với con dâu; cha vợ mẹ vợ với con rể;
ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại với cháu nội, cháu ngoại; anh chị
em ruột với nhau.
Một số khoản thu nhập trước đây
tạm thời chưa thu thuế như thu nhập từ đầu tư vốn (gồm lãi cho vay, lợi
tức cổ phần và thu nhập từ đầu tư vốn dưới các hình thức khác); thu
nhập từ chuyển nhượng vốn bao gồm cả chuyển nhượng chứng khoán. Tuy
nhiên, phần thu nhập từ lãi tiền gửi tại các tổ chức tín dụng (ngân
hàng, các quỹ tín dụng và các tổ chức tín dụng khác) và lãi từ hợp đồng
bảo hiểm nhân thọ được miễn thuế TNCN. Việc miễn thuế này nhằm mục đích
thu hút khoản tiền nhàn rỗi nhỏ lẻ trong dân cư vào các kênh tín dụng,
để từ đó sử dụng vốn của nền kinh tế vào hoạt động sản xuất kinh doanh,
khuyến khích sử dụng có hiệu quả mọi đồn vốn của xã hội.
Mở
rộng diện điều tiết như trên sẽ góp phần điều tiết công bằng thu nhập
của các tầng lớp dân cư theo hướng mọi cá nhân có thu nhập (trừ trường
hợp thu nhập rất thấp và một số trường hợp đặc biêt) đều phải có nghĩa
vụ nộp thuế cho Nhà nước. Đồng thời, bằng quy định mới này, Luật thuế
TNCN sẽ góp phần tăng thu cho ngân sách Nhà nước một cách hợp lí trên
cơ sở không bỏ sót nguồn thu của nền kinh tế.
Sử dụng thuật ngữ "thu nhập được miễn thuế" thay cho "thu nhập không
chịu thuế" và bổ sung một số khoản thu nhập được miễn thuế.
Trên
cơ sở kế thừa các khoản thu nhập không thuộc diện chịu thuế của Pháp
lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, Luật thuế TNCN đã
thay đổi, gọi đúng bản chất là thu nhập được miễn thuế và bổ sung một
số khoản thu nhập được miễn thuế khác. Cụ thể là bổ sung các khoản thu
nhập sau vào diện miễn thuế: thu nhập từ tiền lương làm việc ban đêm,
làm thêm giờ được trả cao hơn lương làm việc ban ngày, làm việc trong
giờ; lương hưu; Tiền thửơng cho cá nhân về việc phát hiện, khai báo cơ
quan nhà nước có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luât; học bổng nhận
từ ngân sách Nhà nước và từ các tổ chức trong và ngoài nước theo quy
định của Chính phủ; thu nhập từ viện trợ, từ thiện với điều kiện các
quỹ từ thiện này phải được Nhà nước cho phép thành lập hoặc công nhận
hoạt động vì mục đích nhân đạo không nhằm mục đích thu lợi nhuận; thu
nhập từ lãi trái phiếu chính phủ.
Việc bổ sung một
số khoản thu nhập miễn thuế nêu trên thể hiện sự ưu đãi của nhà nước
đối với một số đối tượng được hưởng thu nhập trong những trường hợp gặp
khó khăn. Điều này cũng thể hiện chính sách khuyến khích của nhà nước
đối với một số hoạt động có lợi cho phát triển kinh tế- xã hội như tốt
giác tội phạm, tăng cường lao động sản xuất…
Áp dụng giảm trừ gia cảnh khi xác định nghĩa vụ thuế.
Đây
chính là vấn đề được ủng hộ của đông đảo nhân dân nhất song cũng là vấn
đề gây nhiều tranh cãi nhất khi dự thảo Luật được đưa ra lấy ý kiến
nhân dân. Sự ủng hộ xuất phát từ cơ sở là, thau vì áp dụng mức khởi
điểm chịu thuế chung cho mọi đối tượng nộp thuế (có tính riêng đối với
người Việt Nam và người nước ngoài cư trú tại Việt Nam) thì chuyển sang
áp dụng giảm trừ gia cảnh, tức là có tính đến hoàn cảnh cá nhân của đối
tượng nộp thuế. Điều này làm cho việc xác định nghĩa vụ thuế của mỗi
đối tượng nộp thuế được công bằng hơn. Tuy nhiên, điểm gây nhiều tranh
cãi là ở chỗ, mức giảm trừ nên là bao nhiêu cho bản thân đối tượng nộp
thuế và cho người phụ thuộc. Sau khi thảo luận khá sôi nổi và thẳng
thắn, Quốc hội đã biểu quyết thông qua mức giảm trừ cho bản thân đối
tượng nộp thuế là 4 triệu đồng/tháng, cho mỗi người phụ thuộc mà đối
tượng nộp thuế có nghĩa vụ nuôi dưỡng là 1.6 triệu đồng/tháng.
Có
ý kiến cho rằng, mức giảm trừ gia cảnh như trên là thấp. Tuy nhiên, mức
giảm trừ gia cảnh như trên là phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội của
Việt Nam trong những năm tới và phù hợp với quản điểm cải cách hệ thống
thuế của Việt Nam. Theo đó, với mức thu nhập bình quân đầu người dự
kiến cho năm 2009 là khoản 1.5 triệu đồng/tháng thì mức giảm trừ cho
bản thâm đối tượng nộp thuế ở mức 4 triệu đồng/tháng có ý nghĩa rằng,
chỉ những người có thu nhập từ trung bình khá trở lên mới phải nộp thuế
(và chỉ phải nộp đối với phần thu nhập vượt trên mức giảm trừ này).
Những năm sau đó, khi thu nhập tăng lên, mức giảm trừ này sẽ tiến gần
đến với mức thu nhập trung bình trong xã hội và khi đó những người có
thu nhập ở mức trung bình trở lên sẽ phải nộp thuế TNCN. Điều này có
nghĩa là Luật sẽ tự động mở rộng diện tích đánh thuế để thực hiện
nguyên tắc mọi công dân có thu nhập (trừ trường hợp thu nhập quá thấp)
đều có nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước, từ đó đảm bảo công bằng trong
điều tiết thu nhập của tầng lớp dân cư. Tất nhiên, đến một thời điểm
nào đó, khi thu nhập và mức sống của dân cư đã tăng rất cao, Quốc hội
sẽ xem xét điều chỉnh mức giảm trừ này cho phù hợp với định hướng vừa
phân tích trên.
Việc giảm trừ cho người phụ thuộc
được thực hiện theo nguyên tắc mỗi người phụ thuộc được tính giảm trừ
một lần vào một đối tượng nộp thuế. Những người phụ thuộc được giảm trừ
khá rộng, bao gồm: con chưa thành niên, con đang học đại học, cao đẳng,
trung học chuyên nghiệp, con tàn tật không có khả năng lao động; các cá
nhân khác không có thu nhập hoặc có thu nhập nhưng thấp hơn mức quy
định của Chính phủ hoặc không có nơi nương tựa mà người nộp thuế phải
trực tiếp nuôi dưỡng (gồm cha, mẹ, vợ chồng, cô, dì, chú, bác, cháu…).
Luật cũng không khống chế mức giảm trừ tối đa cho người phụ thuộc
(trong dự thảo Luật lấy ý kiến nhân dân, dự kiến khống chế mức giảm trừ
tối đa cho người phụ thuộc là 10 triệu đồng/tháng)
Việc
mở rộng diện giảm trừ như trên cho những người phụ thuộc đam rbảo thực
hiện công bằng trong điều tiết thu nhập và phù hợp với đạo lý xã hội
của người Việt Nam, chắc chắn sẽ nhận được sự đồng tình ủng hộ của đông
đảo nhân dân.
Áp dụng giảm trừ đối với các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo.
Khoản
đóng góp từ thiện nhân đạo được trừ vào thu nhập trước khi tính thuế
nhưng chỉ áp dụng đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công và thu nhập
từ kinh doanh; không áp dụng đối với cá khoản thu nhập khác. Đây là
điểm mới không chỉ so với Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu
nhập cao hiện hành mà còn mới ngay cả đối với bản dự án Luật lấy ý kiến
nhân dân. Nội dung mới này của Luật được Quốc hội tiếp thu ý kiến nhân
dân. Với quy định này, Luật đã khuyến khích mọi công dân trong xã hội
tham gia các hoạt động từ thiện, nhân đạo. Đồng thời, đây cũng chính là
một khoản "chi tiêu qua thuế" của nhà nước, thể hiện ở chỗ một khoản
thu lẽ ra được nộp về ngân sách Nhà nước bây giờ được chuyển sang cho
đối tượng thụ hưởng khoản đóng góp từ thiện. Chẳng hạn như, một người
có thu nhập từ kinh doanh trước thuế của một năm 360 triệu đồng (thu
nhập bình quân tháng 30 triệu đồng) thực hiện góp quỹ ủng hộ đồng bào
lụt 10 triệu đồng. Khi đó, 10 triệu đồng này được giảm trừ vào thu nhập
chịu thuế. Với biểu thuế như sẽ được trình bày dưới đây, số thuế nhà
nước giảm thu khi cho cá nhân này giảm trừ vào thu nhập tính thuế là 2
triệu đồng. Có thể hiểu trong trường hợp này, coi như Nhà nước đã sử
dụng ngân sách góp vào quỹ ủng hộ đồng bào bão lụt 2 triệu đồng, còn cá
nhân này thực ra chỉ ủng hộ 8 triệu đồng.
Quy định giảm trừ chi phí cho cá nhân kinh doanh một cách hợp lý
Cùng
với việc chuyển cá nhân kinh doanh từ diện nộp thuế TNDN sang nộp thuế
TNCN, Luật thuế TNCN đã quy định các khoản chi phí hợp lý được trừ khi
xác định thu nhập chịu thuế của cá nhân kinh doanh. Về cơ bản, các
khảon chi phí hợp lý được trừ này kế thừa cá quy định hiện hành của
Luật thuế TNDN. Trường hợp cá nhân kinh doanh không thực hiện chế độ kế
toán để làm cơ sở xác định chi phhí hợp lý được trừ thì thu nhập chịu
thuế đựơc xác định bằng doanh thu ấn định nhân với tỷ lệ thu nhập chịu
thuế quy định cho từng ngành.
Điều chỉnh thuế
suất theo hướng giảm thuế suất cao nhất, thấp nhất, và tăng bậc thuế
suất; thống nhất biểu thuế đối với người Việt Nam và người nước ngoài.
Theo
Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, thu nhập thường
xuyên chịu thuế theo biểu thuế luỹ tiến từng phần với bốn mức thuế
suất, thấp nhất là 10% và cao nhất là 40%. Đối với thuế thu nhập từ
kinh doanh và từ tiền lương, tiền công, Luật thuế TNCN vẫn áp dụng biểu
thuế luỹ tiến từng phần nhưng mức thuế suất thấp nhất giảm xuống còn 5%
và mức thuế suất cao nhất giảm xuống còn 35% với số lượng bậc thuế nâng
lên thành bảy và áp dụng chung cho cả người Việt Nam và người nước
ngoài (cụ thể như bảng 1)
Bảng 1
Bậc thuế |
Thu nhập tính thuế/năm (triệu đồng)
|
Thu nhập tính thuế/tháng (triệu đồng)
|
Thuế suất (%)
|
|
1
|
Đến 60
|
Đến 5
|
5
|
|
2
|
Trên 60 đến 120
|
Trên 5 đến 10
|
10
|
|
3
|
Trên 120 đến 240
|
Trên 10 đến 20
|
15
|
|
4
|
Trên 240 đến 420
|
Trên 20 đến 35
|
20
|
|
5
|
Trên 420 đến 660
|
Trên 35 đến 55
|
25
|
|
6
|
Trên 660 đến 960
|
Trên 55 đến 80
|
30
|
|
7
|
Trên 960
|
Trên 80
|
35
|
Với
biểu thuế mới này, tuy việc tính toán có phức tạp hơn (do tăng số lượng
bậc thuế) nhưng lại đảm bảo công bằng hơn trong điều tiết thu nhập do
chênh lệch về thuế suất giữa các bậc thuế giảm đi. Việc hạ thuế suất
cao nhất và thấp nhất xuống thể hiện tinh thần mở rộng diện đánh thuế
nhưng mức độ điều tiết cũng giảm đi, huy động sự đóng góp của nhiều
người nhưng với mức độ vừa phải, thực hiện "góp gió thành bão". Mặc
khác, việc giảm mức thuế suất cao nhất sẽ góp phần khuyến khích người
lao động tích cực lao động và sản xuất, kinh doanh; khuyến khích người
dân làm giầu chính đáng.
Đối với các khoản thu nhập còn lại. Luật thuế thu nhập cá nhân quy định biểu thuế luỹ tiến toàn phần như bảng 2:
|
|
Loại thu nhập tính thuế
|
Thuế suất (%)
|
|
1
|
Thu nhập từ đầu tư vốn
|
5
|
|
2
|
thu nhập từ bản quyền, nhượng quyền thương mại
|
5
|
|
3
|
Thu nhập từ trúng thưởng
|
10
|
|
4
|
Thu nhập từ thừa kế, quà tặng
|
10
|
|
5
|
Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản
-Trường hợp không xác định được thu nhập tính thuế thì áp dụng thuế suất tính trên gía bán
|
25
2
|
|
6
|
Thu nhập từ chuyển nhượng vốn
-Đối với chuyển nhượng chứng khoán áp dụng thu thuế theo từng phần
|
20
0.1
|
Ngoài
ra, Luật còn quy định thuế suất cụ thể cho từng loại thu nhập áp dụng
đối với cá nhân không cư trú với các mức thuế suất từ 1% đến 10% tính
trên toàn bộ thu nhập phát sinh ở Việt Nam (không được trừ chi phí).
Tóm
lại, Luật thuế TNCN vừa được Quốc hội thông qua có nhiều điểm mới, phù
hợp với tiến trình đổi mới quản lý kinh tế của nhà nước, với quá trình
hội nhập kinh tế của đất nước và phù hợp với trình độ phát triển kinh
tế-xã hội của nước ta hiện nay. Với việc ban hành Luật thuế quan trọng
này, hệ thống thuế của chúng ta đang hướng đến phù hợp hơn với hệ thống
thuế các nước, hướng tới một hệ thống thuế công bằng và hiện đại hơn. |