"Khi giá cả lên, không phải chỉ người chịu thuế bị
ảnh hưởng mà hàng triệu người khác và nhà nước cũng bị ảnh hưởng. Bởi
vậy, nếu quan niệm rằng khi vật giá lên phải chỉnh lại mức khởi điểm
nộp thuế là hoàn toàn sai lầm".
Xung quanh vấn đề này, ông Nguyễn Văn Phụng - Phó Vụ trưởng Vụ chính sách Thuế - Bộ Tài Chính đã có cuộc trao đổi với báo giới.
Nhiều
ý kiến cho rằng, trước tình hình lạm phát vẫn đang ở mức cao và dự kiến
sẽ còn đến hết năm 2009, thì mức khởi điểm chịu thuế như vậy là bất hợp
lý. Ông suy nghĩ thế nào?
Khi giá
cả lên, không phải chỉ người chịu thuế bị ảnh hưởng mà hàng triệu người
khác và nhà nước cũng bị ảnh hưởng. Bởi vậy, nếu quan niệm rằng khi vật
giá lên phải chỉnh lại mức khởi điểm nộp thuế là hoàn toàn sai lầm.
Không thể có suy nghĩ cứ lạm phát là đòi giảm thuế. Khi đã lạm phát,
Chính phủ còn khó khăn hơn rất nhiều và phải chi nhiều hơn cho an sinh
xã hội. Nếu giảm thuế thì lấy tiền đâu cho người nghèo hơn, khổ hơn.
Việc
nộp thuế TNCN có liên quan đến mức giảm trừ gia cảnh và theo quy định
là 1,6 triệu đồng/người/tháng. Theo ông, mức giảm trừ này trong điều
kiện giá cả có nhiều biến động như hiện nay liệu có phù hợp?
Việc
đưa ra mức giảm trừ gia cảnh không có nghĩa là người dân chỉ được tiêu
đến thế mà đây chỉ là “vạch sơn” để tính ra trong 86 triệu dân có mấy
trăm nghìn người phải nộp thuế. Còn sau khi nộp thuế xong, người ta
muốn cho con bao nhiêu tiền ăn học không ai cấm.
Ví
dụ một người có thu nhập 10 triệu đồng/tháng, phải nuôi vợ mất sức lao
động và hai con ăn học. Như vậy họ đã được trừ 4,8 triệu cho người ăn
theo và 4 triệu đồng cho bản thân, tổng cộng là 8,8 triệu đồng. Thu
nhập còn lại phải chịu thuế chỉ còn 1,2 triệu đồng và mức thuế nộp là
60.000 đồng. Điều đó cho thấy đừng lấy mức giảm gia cảnh 1,6 triệu
đồng/tháng đối với một người mà nghĩ người chịu thuế sẽ gặp khó khăn.
Ông có nghĩ sẽ có chuyện gian lận trong việc nộp thuế TNCN không?
Theo
tôi, trước hết phải có niềm tin vào người nộp thuế với phần lớn là
những người có văn hóa cao. Chúng ta cũng đề cao quyền hạn và trách
nhiệm của người nộp thuế bằng việc họ tự kê khai thu nhập, tự kê khai
gia cảnh và người phụ thuộc. Trên cơ sở đó, cơ quan chi trả thu nhập
khấu trừ tiền thuế hàng tháng, các cá nhânkinh doanh nộp thuế hàng quý.
Nhưng
nói thế nào thì rõ ràng việc giảm trừ gia cảnh cũng như quản lý các
khoản thu thuế trên thực tế rất phức tạp. Vậy ông có thể cho biết, dự
thảo Nghị định triển khai Luật thuế TNCN có tính đến những yếu tố này
không?
Cơ quan thuế có trách nhiệm
xác minh những người được giảm trừ gia cảnh thông qua các giấy tờ của
người chịu thuế xuất trình. Cụ thể là đối với con cái cần có giấy khai
sinh (không cần giấy đăng ký kết hôn) để đối chiếu. Đối với bố mẹ sẽ
đối chiếu bằng giấy khai sinh của bản thân người nộp thuế.
Đương
nhiên một bố mẹ có thể có nhiều con cái nuôi, nhưng lúc đó cần nộp cho
cơ quan thuế giấy thoả thuận trong gia đình thì sẽ được giải quyết.
Việc điều tra xác thực giấy tờ khai của người chịu thuế cũng sẽ được
tiến hành. Có thể kiểm tra xác xuất, ngẫu nhiên, hậu kiểm hoặc có thể
phối hợp với cán bộ phường, tổ dân phố để kiểm tra, xác nhận.
Luật thuế TNCN có tác động như thế nào đối với khu vực nông nghiệp, nông thôn, thưa ông?
Tinh
thần của luật thuế TNCN là làm thế nào chúng ta thực hiện miễn thuế đối
với các trường hợp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, đánh bắt nuôi
trồng thủy sản trực tiếp nhưng lại phải phân biệt được với những người
quá giàu ở thành phố về quê làm kinh tế trang trại.
Theo
đó, Nghị định sẽ đưa ra các điều kiện quy định thế nào là những người
trực tiếp sản xuất nông, lâm nghiệp và đánh bắt nuôi trồng thuỷ sản.
Thứ nhất phải có quyền sử đụng đất hợp pháp, phải có tàu, thuyền và
thực hiện các chuyến đánh bắt. Thứ hai là những người này phải cư trú ở
địa phương chọn theo địa bàn cấp huyện.
Cũng
có ý kiến đề nghị phải quy định chắt chẽ hơn, thí dụ như cần phải khống
chế về lao động. Quy định thêm điều kiện lao động cũng được đặt ra
nhưng tinh thần luật là phải thông thoáng, chúng ta khuyến khích sản
xuất phát triển.
Xin cảm ơn ông ! |